Nguồn gốc bánh chưng gắn với hoàng tử Lang Liêu đời Hùng Vương thứ 6, theo truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái. Chàng làm bánh chưng hình vuông gói lá dong và bánh giầy hình tròn để dâng cúng tổ tiên, rồi được vua cha truyền ngôi. Theo quan niệm trong truyện, bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, còn bánh giầy hình tròn tượng trưng cho trời. Truyện kể dân gian này không phải tư liệu lịch sử có niên đại, nhưng bánh chưng đã gắn với người Việt qua nhiều dịp Tết.
Lá gói bánh chưng là lá dong, loại dong nếp hai mặt nhẵn, cho bánh mùi thơm và lớp vỏ xanh. Ở miền Trung và miền Nam, bánh tét cũng được làm từ gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn, có hình trụ dài và thường được gói bằng lá chuối.

Sự tích bánh chưng kể gì?
Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc Ân, vua Hùng thứ 6 muốn chọn người kế vị trong số 22 con trai. Các con trai của vua được gọi là quan lang, và người dâng món ngon, vật lạ vừa ý vua để cúng tổ tiên sẽ được truyền ngôi.
Trong khi các anh em lên rừng, xuống biển tìm sơn hào hải vị, Lang Liêu phải tự trồng lúa, trồng khoai để sinh sống. Lang Liêu là con thứ 18, mẹ chàng bị vua ghẻ lạnh rồi mất sớm, vì vậy chàng không có ai đỡ đần. Một đêm, Lang Liêu được thần nhân báo mộng rằng hạt gạo quý nhất trong trời đất và khuyên chàng dùng gạo nếp làm bánh.
Tỉnh dậy, Lang Liêu chọn nếp trắng, đậu xanh, thịt lợn, gói bằng lá dong thành bánh chưng hình vuông rồi đem luộc chín. Với phần nếp còn lại, chàng đồ chín rồi giã nhuyễn và nặn thành bánh giầy hình tròn, tượng trưng cho trời. Đến ngày dâng lễ, vua thấy bánh ngon và hài lòng với lời giải thích bánh vuông tượng trưng cho đất, bánh tròn tượng trưng cho trời. Theo truyền thuyết, Lang Liêu được truyền ngôi thay vì con trưởng và về sau trở thành vua Hùng thứ 7.
Từ đó, vào mỗi dịp Tết, dân gian gói bánh chưng, giã bánh giầy để dâng cúng tổ tiên theo truyền thuyết này. Dân gian còn gọi Tết Cả (Tết Nguyên đán) là “Tết bánh chưng bánh dày”, một tên gọi gắn với hai loại bánh trong truyện. Trong một số bản chép, chàng được gọi là Tiết Liêu, tên gọi gợi liên tưởng đến các món ăn ngày Tết.
Truyện Lang Liêu có phải chuyện có thật không?
Truyện được chép trong Lĩnh Nam chích quái, tập truyện dân gian được cho là chép lại từ thời Trần, thường gắn với Trần Thế Pháp. Thời Hùng Vương cách thời Trần hơn 1.000 năm, trong khi chưa có văn bản cùng thời ghi lại cuộc thi làm bánh. Tương tự Sơn Tinh Thủy Tinh hay Thánh Gióng, truyện Lang Liêu giải thích phong tục và thể hiện những giá trị được đề cao.
Nhóm tác giả Trịnh Thế Truyền, Nguyễn Thị Huyền, Hà Thị Lịch (Trường Đại học Hùng Vương) phân tích các lớp ý nghĩa của truyện. Theo nhóm tác giả, truyện đề cao việc tự tay cày cấy, vai trò của hạt gạo và quan niệm chọn người tài đức kế vị. Việc trao ngôi không phụ thuộc thứ bậc, còn việc dâng bánh cũng được các tác giả liên hệ với cội nguồn tục thờ cúng tổ tiên.
Tại Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ, đền thờ hoàng tử Lang Liêu là nơi tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ chàng. Năm 2025, lễ dâng hương tại đền diễn ra vào mùng 9 và mùng 10 tháng Tư âm lịch, kèm trình diễn làm bánh.
Bánh chưng vuông, bánh giầy tròn tượng trưng cho gì?
Theo quan niệm “trời tròn, đất vuông”, bánh giầy hình tròn, màu trắng tượng trưng cho trời, còn bánh chưng hình vuông, màu xanh tượng trưng cho đất. Trên bàn thờ, cặp bánh thể hiện lòng biết ơn trời đất và tổ tiên, đồng thời bày tỏ sự trân trọng nguồn sống.
| Chi tiết | Cách hiểu thường gặp |
|---|---|
| Bánh chưng hình vuông, gói lá xanh | Tượng trưng cho đất |
| Bánh giầy hình tròn, màu trắng | Tượng trưng cho trời |
| Gạo nếp làm chính | Hạt gạo quý nhất, theo lời thần nhân trong truyện |
| Nguyên liệu tự trồng, tự nuôi | Lễ vật giản dị mà đủ lòng hiếu với tổ tiên |
Các nhà nghiên cứu vẫn thảo luận về thời điểm xuất hiện cách giải thích hình vuông và hình tròn của những chiếc bánh. Nhóm tác giả Đại học Hùng Vương cho rằng phần giải nghĩa khi chép vào sách thời Trần có thể chịu ảnh hưởng tư duy âm dương. Họ dẫn quan điểm của Giáo sư Trần Quốc Vượng rằng người Việt cổ ở vùng đất Tổ vốn có quan niệm âm dương riêng. Quan niệm ấy được thể hiện qua bánh chưng hình vuông và bánh tày (bánh chưng dài, hình trụ). Ở Phú Thọ hiện nay, cả bánh chưng hình vuông và bánh tày hình trụ vẫn được lưu truyền trong tập quán gói bánh.
Về cách viết, tên gọi đúng chính tả là “bánh chưng”, không phải “bánh trưng” như nhiều người thường nhầm lẫn.
Bánh chưng gói bằng lá gì, vì sao lại là lá dong?
Trong truyện Lang Liêu, bánh chưng được gói bằng lá dong, loại lá vẫn được sử dụng để gói bánh chưng ngày nay. Cây dong có 2 loại là dong nếp và dong tẻ (dong lông), trong đó dong tẻ không được dùng để gói bánh. Dong nếp có hai mặt lá đều nhẵn và là loại lá người dân chọn để gói bánh chưng hình vuông.
Người gói bánh lâu năm coi lá dong là lựa chọn phù hợp nhất nhờ mùi thơm và khả năng tạo màu xanh cho bánh. Sau nhiều giờ luộc, mùi lá thấm vào gạo, còn màu lá làm xanh lớp nếp ngoài cùng. Lá dong to bản và dai, giúp người gói ôm trọn chiếc bánh chưng hình vuông, đồng thời gấp các mép thành góc gọn gàng.
Tại những vùng thiếu lá dong, người dân có thể dùng lá chít, lá chuối hoặc lá bàng để gói bánh chưng. Khi lá dong rừng ngày càng khan hiếm, nhiều làng đã trồng dong chuyên canh, trong đó có thôn Tràng Cát ở Thanh Oai, Hà Nội.
Bài cách gói bánh chưng bằng khuôn hướng dẫn từng bước cách chọn lá, rửa lá, xếp lá chồng mí, xếp lá vào khuôn để tự tay gói vuông dễ nhất.
Bánh chưng và bánh tét khác nhau thế nào?
Bánh chưng và bánh tét cùng sử dụng nếp, đậu xanh, thịt lợn, nhưng khác nhau chủ yếu ở hình dáng, lá gói và cách cắt.
| Bánh chưng | Bánh tét | |
|---|---|---|
| Dáng bánh | Hình vuông, dẹt | Hình trụ dài |
| Lá gói | Lá dong là chính | Thường là lá chuối, có nơi dùng lá dong |
| Cách gói | Gói tay hoặc gói khuôn | Cuộn tay, cột lạt dọc thân |
| Cách cắt | Cắt miếng tam giác, miếng vuông | Cắt thành khoanh tròn |
| Hay gặp ở | Miền Bắc | Miền Trung, miền Nam |
Truyện Lang Liêu không nhắc đến bánh tét, còn tên gọi của loại bánh này được giải thích qua một số giả thuyết truyền khẩu. Theo cách giải thích thường được nhắc đến, người Nam Bộ đọc trại tên “bánh Tết” thành “bánh tét”. Theo cách giải thích khác, vì nếp dẻo dính dao, người ăn dùng sợi lạt siết quanh thân bánh để “tét” thành từng khoanh. Theo một giai thoại, năm 1789, đoàn quân Quang Trung ra Bắc mang theo loại bánh hình trụ dài để thuận tiện đeo bên người. Các cách giải thích trên đều được lưu truyền bằng lời kể, và hiện chưa có bằng chứng xác thực để khẳng định cách nào đúng.
Ở miền Bắc, bánh tày hình trụ cũng được gói, và tại một số nơi, loại bánh này còn có tên là bánh chưng dài. Bánh tày thường ít đậu, ít hoặc không có thịt, nhờ đó có thể bảo quản lâu hơn bánh chưng vuông. Cách xào nếp, cuộn đòn và cột lạt có đủ trong bài cách gói bánh tét để bạn thử làm bánh miền Nam.
Bánh chưng ngày Tết bây giờ ra sao?
Cuộc thi tài của Lang Liêu chỉ còn trong truyện kể, còn nồi bánh chưng đêm cuối năm vẫn gắn bó với nhiều gia đình Việt. Vài ngày trước Tết, nhiều người vẫn giữ lệ gói bánh và thức quanh nồi bánh, trong khi một số nơi đặt mua bánh của làng nghề cho kịp. Trên bàn thờ, người dân thường bày bánh chưng cạnh mâm ngũ quả và chỉ bóc bánh để ăn sau khi hoàn thành lễ cúng. Bài phong tục Tết Việt trình bày vị trí của bánh chưng giữa các tục ngày Tết, từ tất niên tới chúc Tết đầu năm.
Sau khi gói bánh chưng, bạn bước vào công đoạn luộc bánh, vốn là phần tốn nhiều thời gian nhất. Bài cách luộc bánh chưng đã ghi từng mốc, giải đáp nồi thường luộc bao nhiêu tiếng, châm nước ra sao, nồi áp suất có dùng được không. Bài bảo quản bánh chưng, bánh tét hướng dẫn cất tủ lạnh, ngăn đá giúp bánh khỏi lại gạo, khỏi mốc khi bạn ăn không kịp.
Khi trẻ tập vẽ bánh chưng hình vuông với 4 sợi lạt, bài cách vẽ bánh chưng hướng dẫn từng nét cho trẻ dễ làm theo.
Nguồn: Trịnh Thế Truyền, Nguyễn Thị Huyền, Hà Thị Lịch, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, tập 18, số 1 (2020); Nhân Dân, 05/05/2025; Pháp Luật Việt Nam, 23/01/2014; VTC News, 07/07/2026; Wikipedia tiếng Việt, mục Bánh chưng; Wikipedia tiếng Anh, mục Bánh chưng.



